Thông tư 64 bổ sung thêm trường hợp thu hồi giấy đăng ký, biển số xe

Thông tư 64/2017/TT-BCA sửa đổi Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe có bổ sung thêm những trường hợp phải thu hồi giấy đăng ký, biển số xe.

0
308
Thông tư 64 bổ sung thêm trường hợp thu hồi giấy đăng ký, biển số xe
Thông tư 64 bổ sung thêm trường hợp thu hồi giấy đăng ký, biển số xe

Thông tư 64/2017/TT-BCA sửa đổi Thông tư 15/2014/TT-BCA quy định về đăng ký xe có bổ sung thêm những trường hợp phải thu hồi giấy đăng ký xe, biển số xe. Quy định sửa đổi đăng ký xe sẽ chính thức có hiệu lực từ tháng 3/2018. Cụ thể, 8 trường hợp buộc thu hồi giấy đăng ký, biển số xe có hiệu lực từ tháng 3/2018 gồm:

– Xe tháo máy, khung để thay thế cho xe khác.

– Xe hỏng không sử dụng được hoặc xe bị phá hủy do nguyên nhân khách quan.

– Xe tạm nhập của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài tái xuất hoặc chuyển nhượng tại Việt Nam.

– Xe đăng ký tại các khu kinh tế – thương mại đặc biệt hoặc khu kinh tế cửa khẩu quốc tế theo quy định của Chính phủ khi tái xuất hoặc chuyển nhượng vào Việt Nam.

– Xe được miễn thuế nhập khẩu, nay chuyển nhượng sang mục đích khác.

– Xe bị mất cắp, chiếm đoạt không tìm được, chủ xe đề nghị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe.

– Xe hết niên hạn sử dụng; xe không được phép lưu hành theo quy định của pháp luật; xe có kết luận của cơ quan có thẩm quyền bị cắt hàn cả số máy và số khung hoặc chỉ cắt hàn số máy hoặc số khung.

– Xe đã đăng ký, cấp biển số nền màu xanh, chữ và số màu trắng; xe biển số ký hiệu 80 nền màu trắng, chữ và số màu đen khi có quyết định điều chuyển, bán, tặng, cho xe.

Bên cạnh những trường hợp thu hồi giấy đăng ký, biển số xe. Thông tư còn nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan.

Đối với xe hết niên hạn sử dụng, cơ quan đăng ký và quản lý xe cần phối hợp với công an thực hiện rà soát. Đồng thời thông báo, yêu cầu các tổ chức cá nhân có xe hết niên hạn, xe công nông, xe tự chế 3-4 bánh đến trụ sở Cảnh sát giao thông làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe.

Thông tư 64 bổ sung trường hợp thu hồi giấy đăng ký, biển số xe
Thông tư 64 bổ sung trường hợp thu hồi giấy đăng ký, biển số xe

Sau 2 tuần kể từ ngày thông báo, nếu chủ xe không tự giác đến làm thủ tục thì cơ quan đăng ký xe cần phối hợp với Công an cấp xã thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe. Ngoài ra, cơ quan đăng ký phải lên danh sách xe hết niên hạn sử dụng cho Công an các đơn vị địa phương nhằm đảm bảo trật tự và an toàn giao thông.

Những trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe hoặc biển số xe cần phải làm đơn trình báo và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật (đối với cá nhân) và công văn đề nghị (đối với tổ chức).

Đối với xe tai nạn giao thông bị phá hủy không sử dụng được, cơ quan thụ lý giải quyết vụ tai nạn cần tạm giữ giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe và thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã đăng ký xe đó để làm thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe.

Về thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe, chủ xe cần chuẩn bị giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe (mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này), sau đó nộp lại giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe mà không phải mang xe đến cơ quan đăng ký. Nếu mất giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe thì phải có đơn trình báo và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật (đối với cá nhân) và công văn đề nghị (đối với tổ chức).

Thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký, biển số xe trong từng trường hợp cụ thể:

– Xe bị cắt hàn cả số máy và số khung; xe chỉ cắt hàn số máy hoặc số khung phải có văn bản kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

– Xe tai nạn bị phá hủy không sử dụng được, xe hết niên hạn sử dụng, xe không được phép lưu hành theo quy định của pháp luật bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ xe cần chuẩn bị công văn thông báo của cơ quan có thẩm quyền đi kèm giấy chứng nhận đăng ký xe, biển số xe.

– Xe các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và cá nhân người nước ngoài làm việc trong các cơ quan, tổ chức này khi làm thủ tục thu hồi chứng nhận đăng ký, biển số xe cần có giấy giới thiệu của Cục Lễ tân Nhà nước (đối với cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế) hoặc Sở Ngoại vụ (đối với cơ quan lãnh sự).